CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ THIẾT BỊ VẠN XUÂN

CÁCH PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH NGHẸT RỄ VÀ VÀNG LÁ LÚA

1.       Nguyên nhân

     Bệnh nghẹt rễ và vàng lá của cây lúa thường xuất hiện trên vùng đất phèn, nhưng hiện nay các vùng đất khác cũng đang bị bệnh do một số nguyên nhân sau:

       + Đất không được khô, ải; trong đất thường bị thiếu ô-xy. Đây là nguyên nhân chính gây nên bệnh nghẹt rễ lúa.

      + Đất có thời gian dài bón nhiều phân bón hoá học dẫn đến đất trồng bị thoái hoá, độ chua ngày càng tăng hiện tượng này được gọi là axit hoá đất trồng trọt hay gọi một cách khác là đất bị "phèn nhân tạo" khi độ pH < 5,5.

      + Do thâm canh kém, sử dụng chất hữu cơ tươi như việc dùng rơm, rạ sau thu hoạch bón trực tiếp cho lúa, thời gian phân huỷ ngắn không đủ điều kiện khoáng hoá hữu cơ đã tạo ra một số độc tố như Fe+2, Al3+, SO4-2, H2S, CO2 và các axit hữu cơ v.v... Trong đó độc tố sắt là các ion Fe+2 làm hại trực tiếp đến mạ mới cấy, lá lúa nhiễm độc sắt (Fe) do phản ứng tự nhiên của cây lúa bộ rễ lúa tạo ra một màng ngăn cản trở sự xâm nhập của Fe ở bên ngoài màng rễ đồng thời ngăn chặn các chất dinh dưỡng khác nhất là phốt pho và Kaly. Ngoài ra CO2 cũng là sản phẩm chính của sự phân hủy chất hữu cơ, khi nồng độ CO2 > 15KPa làm cho bộ rễ lúa phát triển chậm, cây bị héo dẫn đến việc hấp thụ dinh dưỡng: K > N > P > Ca > Mg ... kém. Trong thời kỳ đầu của quá trình phân giải chất hữu cơ tươi từ rơm, rạ cũng dẫn đến nồng độ CO2 có thể gây độc cho cây lúa.

     + Do tác động trực tiếp của ion H+ và độ chua quá cao của đất làm cho cây lúa ở tình trạng thiếu canxi phốt pho dễ tiêu do bị sắt và nhôm giữ chặt ở dạng keo Strengit: Fe PO4 2H2O; Vivianit: Fe3 (PO4)2 8H2O; Variscit: Al PO4 2H2O;Wavelit: Al3 (OH)3 (PO4)2 2H2O; Fluoroapatit: Ca5 (PO4)3 F; Hydroxiapatit: Ca5 (PO4)3OH. Thời kỳ đầu có khoảng 86% lân liên kết thành các phốt phát kim loại không có tác dụng dinh dưỡng cho cây. Khi độ pH < 3,7 thì sự hình thành Jarosetite kết tủa (có màu vàng đặc trưng) không có tác dụng dinh dưỡng cho cây: KFe3(SO4)2 (OH6) 4/3 SO4-2 làm cho lúa thiếu Kaly.

     + Do môi trường nước bị chua không thuận lợi cho hoạt động của vi sinh vật, do đó đã hạn chế quá trình khoáng hoá chất hữu cơ. Số lượng vi khuẩn tổng số và số lượng vi khuẩn phân hủy hợp chất nitơ và phốt pho thấp, ngược lại số lượng vi khuẩn phản nitơrát hoá lại cao hơn so với các loại đất khác (hàm lượng nitơ tổng số trong đất cao nhưng vẫn xảy ra thiếu ni tơ dễ tiêu) làm cho cây thiếu đạm.

2.   Cách phòng chống và điều trị bệnh nghẹt rễ vàng lá:

       Để phòng chống và điều trị bệnh nghẹt rễ vàng lá lúa bằng các biện pháp sau đây:

-  Bà con cần tiến hành cải tạo đồng chua, bón vôi bột từ 20 - 30kg/sào để loại bỏ những điều kiện gây tích tụ chất độc H2S, CO2. Sau đó bón lót phân hữu cơ đã ủ hoai mục, kết hợp bón lót phân lân với lượng 20 - 25kg/sào, bừa kép để lắng bùn sau 10 giờ (tốt nhất là để một vài ngày) mới cấy, cấy nông tay (2-2,5cm).

-  Không dùng chất hữu cơ tươi (chưa phân hủy) để bón ruộng.

-  Với ruộng đã cấy, khi thấy lúa chớm bị bệnh cần tháo kiệt nước vài ba ngày, rắc tro bếp, bón vôi bột 25-40 kg/sào Bắc Bộ, phân lân 15-20kg/sào, làm cỏ sục bùn, kết hợp phun chế phẩm chống nghẹt rễ và vàng lá VX – 09 của Vạn Xuân.

    Chế phẩm phân bón lá cao cấp VX - 09 siêu Chống nghẹt rễ và vàng lá cho   các loại cây trồng như: Cây lúa, cây hồ tiêu...

    VX-09 có tác dụng: Kích thích cây ra nhiều rễ mới, làm tăng khả năng hút chất dinh dưỡng của rễ cây, cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây, điều trị bệnh nghẹt rễ và vàng lá, giúp cây sinh trưởng tốt, cho năng suất cao, tăng cường khả năng chịu hạn, hạn chế sâu bệnh hại.

                                                                            Theo Vạn Xuân